Banner SYT

 

1245678 icon-banggia-nghi-quyet-78

  • KHOA UNG BUOU.jpg
  • KSK.jpg
  • slide5_1.jpg
  • slide7.jpg
  • slide16.jpg
  • web 3-1.jpg
  • web_1-1.jpg
  • web_2-1.jpg
  • web_4-1.JPG
  • web_5-1.jpg
  • web_6-1.jpg
  • web_7-1.jpg
  • web_8-1.jpg

THÔNG TIN THUỐC (THÁNG 01/2019)

0110291

  1. FDA: Ngày 20/12/2018, Cơ quan quản lý Dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ cảnh báo tăng nguy cơ đứt hoặc rách động mạch chủ ở bệnh nhân sử dụng kháng sinh fluoroquinolon

Từ trang Web: canhgiacduoc.org.vn

Cuộc rà soát của FDA chỉ ra các kháng sinh fluoroquinolon có thể làm tăng nguy cơ mắc biến cố đứt hoặc rách động mạch chủ hiếm gặp nhưng nghiêm trọng. Động mạch chủ bị rách hay còn gọi là tách thành động mạch chủ, hoặc đứt phình động mạch chủ có thể dẫn tới xuất huyết nghiêm trọng, thậm trí tử vong. Các biến cố này có thể xảy ra khi sử dụng các fluoroquinolon tác dụng toàn thân đường uống hoặc tiêm.

Khuyến cáo cán bộ y tế

- Tránh kê đơn fluoroquinolon ở bệnh nhân phình động mạch chủ hoặc có nguy cơ phình động mạch chủ, như bệnh nhân xơ vữa động mạch ngoại biên, tăng huyết áp, một số bệnh di truyền như hội chứng Marfan và Ehlers-Danlos, và bệnh nhân cao tuổi

- Chỉ kê đơn fluoroquinolon khi không có biện pháp điều trị khác

- Khuyến cáo tất cả bệnh nhân gọi hỗ trợ y tế ngay nếu có triệu chứng phình động mạch chủ

- Ngừng fluoroquinolon ngay nếu bệnh nhân gặp biến cố bất lợi nghi ngờ liên quan đến phình động mạch chủ hoặc tách thành động mạch chủ

Khuyến cáo bệnh nhân

- Gọi hỗ trợ y tế ngay nếu gặp tình trạng đau đột ngột, nặng, liên tục ở dạ dày, ngực hoặc lưng

- Lưu ý các triệu chứng phình động mạch chủ thường không xuất hiện ngay đến khi động mạch rộng và vỡ, báo cáo tất cả phản ứng bất lợi gặp phải sau khi sử dụng fluoroquinolon cho cán bộ y tế ngay

- Thông báo cho bác sĩ điều trị trước khi bắt đầu dùng bất cứ kháng sinh kê đơn nào nếu bạn có tiền sử phình động mạch, tắc nghẽn hoặc xơ cứng động mạch, huyết áp cao hoặc bệnh di truyền như hội chứng Marfan hoặc Ehlers-Danlos.

- Không tự ý ngừng thuốc khi chưa trao đổi với bác sĩ điều trị.

Nguồn: 

https://www.fda.gov/Safety/MedWatch/SafetyInformation/SafetyAlertsforHumanMedicalProducts/ucm628960.htm

http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/1173/FDA-Ng%C3%A0y-20-12-2018-C%C6%A1-quan-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-D%C6%B0%E1%BB%A3c-ph%E1%BA%A9m-v%C3%A0-th%E1%BB%B1c-ph%E1%BA%A9m-Hoa-K%E1%BB%B3-c%E1%BA%A3nh-b%C3%A1o-t%C4%83ng-nguy-c%C6%A1-%C4%91%E1%BB%A9t-ho%E1%BA%B7c-r%C3%A1ch-%C4%91%E1%BB%99ng-m%E1%BA%A1ch-ch%E1%BB%A7-%E1%BB%9F-b%E1%BB%87nh-nh%C3%A2n-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-kh%C3%A1ng-sinh-fluoroquinolon.htm

  1. Tác dụng không mong muốn của thuốc ức chế bơm proton

Từ trang Web: canhgiacduoc.org.vn

Gần đây có nhiều thông tin đề cập đến các phản ứng có hại của thuốc ức chế bơm proton (PPI). Có nhiều ý kiến trái chiều từ việc cho rằng không thật sự xảy ra các phản ứng có hại nghiêm trọng đến nguy cơ gặp các phản ứng có hại đáng lo ngại với các thuốc này.

Các phản ứng có hại của thuốc ức chế bơm proton được chia thành 3 loại chính:

- Phản ứng có hại ngắn hạn, mức độ nhẹ và ít gặp, như đau đầu, đau bụng, táo bón, tiêu chảy, đầy hơi, buồn nôn, nôn và trong các trường hợp này, bệnh nhân hiếm khi cần ngừng thuốc.

- Các triệu chứng liên quan tới tăng tiết acid hồi ứng sau khi ngừng thuốc, với các biểu hiện như ợ chua, ợ nóng do ngừng thuốc đột ngột (hội chứng cai thuốc). Phản ứng có hại này thường hiếm gặp.

- Cuối cùng, một loạt các phản ứng có hại xuất hiện tương đối muộn, có thể nghiêm trọng và gây tàn tật (đây là một bằng chứng cho vai trò của Cảnh giác dược đối với những thuốc đã được sử dụng từ lâu mà thông tin được cho là đã rõ ràng). Mặc dù ít gặp nhưng do được sử dụng rộng rãi, tất cả các phản ứng có hại của nhóm thuốc này cần phải được nghiên cứu và biết đến:

+ Nhiễm khuẩn, đặc biệt ở hệ tiêu hóa, ví dụ nhiễm Clostridium difficile, nguyên nhân gây ra viêm đại tràng giả mạc. Nguy cơ nhiễm trùng này là do sự giảm acid dạ dày.

+ Gãy xương, tăng nguy cơ gãy xương hông, đốt sống hoặc cổ tay. Cơ chế cũng liên quan tới tăng pH dạ dày, làm giảm hấp thu calci. Một số trường hợp hiếm gặp xuất hiện đau cơ như viêm đa cơ hay viêm khớp đã được báo cáo. Cơ chế được cho là liên quan đến tính tự miễn.

+ Giảm hấp thu vitamin B12, có khả năng gây thiếu máu thứ phát.

+ Giảm natri và magnesi máu có triệu chứng (co giật, loạn nhịp, nôn mửa…) hoặc không có triệu chứng. Giảm calci và kali máu xảy ra đồng thời. Những rối loạn ion được giải thích bởi sự thay đổi pH dạ dày.

+ Tổn thương thận như viêm thận kẽ và rối loạn miễn dịch khác. Cơ chế rối loạn miễn dịch và bệnh thận liên quan tới rối loạn khác như cơ, gan, huyết học và da.

+ Nguy cơ được biết đến từ lâu là u dạ dày- ruột, được biết trong các nghiên cứu tiền lâm sàng của các thuốc này trên động vật, chưa có phát hiện trên người.

Tóm lại, nguyên nhân chính dẫn đến các phản ứng có hại của thuốc ức chế bơm proton là việc sử dụng sai mục đích và tiêu thụ quá mức. Theo tạp chí Revue Prescrire, khoảng 78 triệu hộp “prazol”đã được kê đơn và chi trả bảo hiểm trong năm 2017. Trong số đó chỉ 10% lượt mua có dưới 28 đơn vị liều, điều đó chỉ ra tình trạng sử dụng kéo dài các thuốc PPI. Dữ liệu khác chỉ ra rằng ở các bệnh viện, hơn một nửa bệnh nhân nhập viện có sử dụng một PPI. Hơn nữa, cần lưu ý rằng đây vẫn luôn là thuốc chỉ được sử dụng khi được kê đơn!

Nguồn: BIP Occitanie2018;25(4): 68—89

http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/1196/T%C3%A1c-d%E1%BB%A5ng-kh%C3%B4ng-mong-mu%E1%BB%91n-c%E1%BB%A7a-thu%E1%BB%91c-%E1%BB%A9c-ch%E1%BA%BF-b%C6%A1m-proton.htm

  1. ANSM: Ngày 27/12/2018, Cơ quan Quản lý Dược phẩm Pháp cập nhật về tác dụng gây quái thai và rối loạn tâm thần liên quan đến các retinoid

Từ trang Web: canhgiacduoc.org.vn

Retinoids bao gồm các hoạt chất như acitretin, adapalene, alitretinoin, bexarotene, isotretinoin, tazarotene và tretinoin.

Thông tin dành cho các cán bộ y tế có thể liên quan đến việc chăm sóc bệnh nhân điều trị bằng các retinoid (bác sĩ đa khoa, bác sĩ da liễu, bác sĩ phụ khoa, bác sĩ sản khoa, bác sĩ huyết học, bác sĩ xạ trị, bác sĩ chuyên khoa y học hạt nhân, bác sĩ tâm thần và dược sĩ).

Cơ quan Dược phẩm Châu Âu (EMA) và Cơ quan quản lý Quản lý Dược phẩm Pháp (ANSM) nhắc lại thông tin gây quái thai và rối loạn tâm thần liên quan đến các retinoid  đường uống và tại chỗ.

 Gây quái thai

-  Các retinoid dùng đường uống gây quái thai cao và không nên sử dụng trong thai kỳ.

-  Các retinoid uống như acitretin, alitretinoin và isotretinoin nên sử dụng theo các điều kiện được xác định trong Chương trình dự phòng mang thai (PPG) cho tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

-  Cần trao đổi với bệnh nhân về rủi ro khi dùng retinoid đường uống bằng cách sử dụng các tài liệu giáo dục đơn giản trước khi kê đơn thuốc đặc trị acitretin, alitretinoin và isotretinoin.

- Để phòng ngừa, retinoids tại chỗ cũng chống chỉ định ở phụ nữ mang thai và những người có kế hoạch mang thai

 Rối loạn tâm thần

-   Các trường hợp trầm cảm, trầm cảm nặng hơn, lo lắng hoặc thay đổi tâm trạng đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng retinoid uống nhưng mức độ hiếm gặp.

-  Thông báo cho bệnh nhân được điều trị bằng retinoid đường uống rằng họ có thể có những thay đổi về tâm trạng và/hoặc hành vi. Do đó, bệnh nhân và gia đình cần cảnh giác và tham khảo ý kiến bác sĩ nếu những triệu chứng này xảy ra.

-  Theo dõi tất cả các bệnh nhân được điều trị bằng các retinoid đường uống để phát hiện các dấu hiệu hoặc triệu chứng trầm cảm, và nếu cần thiết, đưa ra phương pháp điều trị thích hợp. Cần thận trọng đặc biệt ở những bệnh nhân có tiền sử trầm cảm

Nguồn: https://www.ansm.sante.fr/S-informer/Informations-de-securite-Lettres-aux-professionnels-de-sante/Retinoides-mise-a-jour-des-informations-sur-la-teratogenicite-et-les-troubles-psychiatriques-Lettre-aux-professionnels-de-sante

Điểm tin: Nghiêm Thị Thùy Linh

http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/1197/ANSM-Ng%C3%A0y-27-12-2018-C%C6%A1-quan-Qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-D%C6%B0%E1%BB%A3c-ph%E1%BA%A9m-Ph%C3%A1p-c%E1%BA%ADp-nh%E1%BA%ADt-v%E1%BB%81-t%C3%A1c-d%E1%BB%A5ng-g%C3%A2y-qu%C3%A1i-thai-v%C3%A0-r%E1%BB%91i-lo%E1%BA%A1n-t%C3%A2m-th%E1%BA%A7n-li%C3%AAn-quan-%C4%91%E1%BA%BFn-c%C3%A1c-retinoid.htm

                                                                     Châu Đốc, ngày 14 tháng 01 năm 2019

 Duyệt thông tin thuốc                

THÔNG TIN THUỐC (THÁNG 12/2018)

  1. 1.ANSM: Ngày 30/11/2018, Cơ quan quản lý Dược phẩm Pháp cập nhật thông tin về thuốc kháng vitamin K

       (Từ trang web: Canhgiacduoc.org.vn)

 Vì nguy cơ gây ra dị ứng miễn dịch và nguy cơ đối với phôi và thai nhi khi người mẹ phơi nhiễm thuốc kháng vitamin K trong thời kỳ mang thai, Cơ quan quản lý dược phẩm Pháp (ANSM) đã quyết định đưa ra thay đổi mới nhằm đảm bảo an toàn khi sử dụng thuốc trên đối tượng đặc biệt như sau:

- Tất cả các thuốc kháng vitamin K sẽ chống chỉ định trong thời kỳ mang thai, trừ một số trường hợp đặc biệt.

- Bệnh nhân không được ngừng điều trị mà không hỏi ý kiến bác sĩ vì việc dừng thuốc đột ngột có thể gây ra hậu quả lớn đến sức khỏe.

Các thuốc kháng vitamin K bao gồm các thuốc fluindion (Previscan), warfarin (Coumadine) hoặc acenocoumarol (Sintrom, Minisintrom) có tác dụng chống đông máu nên được chỉ định trong những trường hợp rung nhĩ (loạn nhịp), huyết khối tĩnh mạch hoặc thuyên tắc phổi.

Chống chỉ định thuốc kháng vitamin K ở phụ nữ mang thai, trừ trường hợp đặc biệt.

Trong trường hợp đang mang thai, các thuốc kháng vitamin K có thể gây ra tổn hại đến phôi và thai nhi:

-  Nguy cơ bị sẩy thai hoặc gây chết thai

-  Tăng nguy cơ xuất huyết ở thai nhi và/hoặc trẻ sơ sinh

-  Tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh nghiêm trọng:

O Trong tuần thứ 6 đến 9, 4% đến 7% trường hợp bị hội chứng dị tật bẩm sinh có tên “hội chứng thai nhi warfarin” hoặc “hội chứng thai nhi kháng vitamin K” với triệu chứng thiểu sản mũi, loạn sản sụn.

O Từ tuần thứ 9 trở đi, 1% đến 2% trường hợp bất thường trên hệ thần kinh trung ương, mắt, đặc biệt nếu tiếp tục điều trị trong chu kỳ thứ 2 và thứ 3 của thai kỳ.

Vậy nên, chống chỉ định thuốc kháng vitamin K ở phụ nữ mang thai vì nguy cơ gây quái thai, độc cho thai và trẻ sơ sinh, trừ trường hợp người có mang van tim nhân tạo có nguy cơ huyết khối cao mà không có thuốc nào thay thế hiệu quả hơn.

Phụ nữ trong tuổi sinh đẻ phải sử dụng biện pháp tránh thai trong khi điều trị hoặc phải thông báo với bác sĩ nếu họ đang mang thai hoặc có ý định mang thai để tránh phải đổi thuốc sau này.

Trong trường hợp phải sử dụng thuốc kháng vitamin K khi mang thai, cần tiến hành chẩn đoán tiền sản chuyên sâu (siêu âm hoặc MRI) phù hợp theo thời kỳ tiếp xúc với thuốc và đặc biệt theo dõi thai nhi cho đến khi trẻ được sinh ra.

Trong trường hợp cần thiết phải sử dụng thuốc chống đông trong thời kỳ mang thai, do có nguy cơ xuất huyết khi chuyển dạ, nên chuyển qua sử dụng heparin từ tuần thứ 36.

Nguồn:          

http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/1145/ANSM-Ng%C3%A0y-30-11-2018-C%C6%A1-quan-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-D%C6%B0%E1%BB%A3c-ph%E1%BA%A9m-Ph%C3%A1p-c%E1%BA%ADp-nh%E1%BA%ADt-th%C3%B4ng-tin-v%E1%BB%81-thu%E1%BB%91c-kh%C3%A1ng-vitamin-.htm

https://www.ansm.sante.fr/S-informer/Actualite/Quoi-de-neuf-concernant-les-Antivitamines-K-Point-d-information

https://ansm.sante.fr/S-informer/Informations-de-securite-Lettres-aux-professionnels-de-sante/Traitement-par-antivitamines-K-AVK-nouvelles-informations-Lettre-aux-professionnels-de-sante

  1. 2.HSA: Ngày 14/11/2018, Cơ quan quản lý Y tế Singapore cảnh báo nguy cơ ung thư da không u sắc tố (ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tế bào vảy)

     (Từ trang web: Canhgiacduoc.org.vn)

AstraZeneca gửi thư tới cán bộ y tế thông báo nguy cơ ung thư da không u sắc tố (non-melanoma skin cancer - NMSC) liên quan đến sử dụng các thuốc chứa hydrochlorothiazid.

Vấn đề an toàn này được xác định từ hai nghiên cứu dịch tễ dược học tại Đan Mạch. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng liều tích lũy hydrochlorothiazid (HCTZ) có liên quan đến ung thư da không u sắc tố (NMSC). Các cán bộ y tế được khuyến cáo bệnh nhân dùng HCTZ đơn độc hoặc phối hợp với thuốc khác nên được cảnh báo về nguy cơ NMSC và nên khám da khi có bất cứ biểu hiện tổn thương mới hoặc thay đổi trên da. Bệnh nhân nên hạn chế tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và tia UV và sử dụng trang phục bảo vệ khỏi ánh nắng mặt trời hay tia UV. Khi nghi ngờ có tổn thương da nên đi khám và cân nhắc kỹ việc sử dụng HCTZ ở bệnh nhân có tiền sử ung thư da. Tờ hướng dẫn sử dụng của viên nén Atacand Plus sẽ được cập nhật nguy cơ NMSC.

Gần đây, cảnh báo này cũng đã được Cơ quan Quản lý Dược phẩm Pháp thông tin đến cán bộ y tế..

Nguồn: http://canhgiacduoc.org.vn/CanhGiacDuoc/DiemTin/1132/HSA-Ng%C3%A0y-14-11-2018-C%C6%A1-quan-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-Y-t%E1%BA%BF-Singapore-c%E1%BA%A3nh-b%C3%A1o-nguy-c%C6%A1-ung-th%C6%B0-da-kh%C3%B4ng-u-s%E1%BA%AFc-t%E1%BB%91-ung-th%C6%B0-bi%E1%BB%83u-m%C3%B4-t%E1%BA%BF-b%C3%A0o-%C4%91%C3%A1y-ung-th%C6%B0-bi%E1%BB%83u-m%C3%B4-t%E1%BA%BF-b%C3%A0o-v%E1%BA%A3y.htm

Duyệt tổ thông tin thuốc

 

 

THÔNG TIN THUỐC THÁNG 11/2018

  1. 1.EMA: Ngày 05/10/2018, PRAC khuyến cáo giới hạn chỉ định các kháng sinh fluoroquinolon và quinolon

         Từ trang Web: canhgiacduoc.org.vn

Giới hạn mới sau cuộc rà soát tác dụng phụ gây tàn tật vĩnh viễn

Ủy ban đánh giá nguy cơ Cảnh giác dược của EMA (PRAC) vừa khuyến cáo giới hạn chỉ định các kháng sinh fluoroquinolon và quinolon (đường uống, đường tiêm hoặc dạng hít) sau cuộc rà soát tác dụng phụ gây tàn tật vĩnh viễn được báo cáo liên quan đến các thuốc này. Cuộc rà soát kết hợp xem xét ý kiến bệnh nhân, cán bộ y tế, cán bộ giảng dạy trình bày tại buổi điều trần công khai các kháng sinh fluoroquinolon và quinolon vào tháng 6/2018.

Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị bằng các kháng sinh fluoroquinolon hoặc quinolon mắc tác dụng phụ gây tàn tật vĩnh viễn rất hiếm gặp, chủ yếu liên quan đến cơ, gân và hệ thần kinh.

PRAC khuyến cáo các kháng sinh fluoroquinolon nên:

  • Không sử dụng:
  • Đặc biệt thận trọng khi sử dụng cho người cao tuổi, bệnh nhân có bệnh thận, bệnh nhân ghép tạng hoặc được điều trị bằng corticosteroid toàn thân. Các bệnh nhân này có nguy cơ tổn thương gân cao hơn khi sử dụng các kháng sinh fluoroquinolon và quinolon.

+ Điều trị nhiễm khuẩn trường hợp có thể cải thiện khi không cần điều trị hoặc các loại nhiễm khuẩn không nghiêm trọng (như viêm họng);

+ Dự phòng tiêu chảy khi đi du lịch hoặc nhiễm khuẩn đường niệu dưới tái phát (nhiễm trùng đường tiết niệu không lan tới bàng quang);

+ Điều trị cho bệnh nhân có tiền sử mắc phản ứng có hại nghiêm trọng khi sử dụng kháng sinh fluoroquinolon hoặc quinolon

+ Để điều trị các nhiễm khuẩn từ nhẹ đến trung bình nặng trừ khi các kháng sinh được khuyến cáo phổ biến khác không được sử dụng

PRAC cũng khuyến cáo cán bộ y tế nên khuyên bệnh nhân ngừng điều trị bằng kháng sinh fluoroquinolon khi có dấu hiệu đầu tiên của phản ứng có hại liên quan đến cơ, gân hoặc xương (như viêm hoặc đứt gân, đau hoặc yếu cơ và đau hoặc sung khớp) hoặc hệ thần kinh (cảm giác kim châm, mệt mỏi, trầm cảm, lú lẫn, có ý định tự tử, rối loạn giấc ngủ, có vấn đề về thị giác và thính giác và thay đổi mùi, vị).

(Các thuốc đã được rà soát bao gồm ciprofloxacin, flumequin, levofloxacin, lomefloxacin, moxifloxacin, norfloxacin, ofloxacin, pefloxacin, prulifloxacin and rufloxacin (các kháng sinh fluoroquinolon); cinoxacin, nalidixic acid, pipemidic acid (các kháng sinh quinolon)).

(EMA: Cơ quan quản lý dược phẩm Châu Âu)

Nguồn: https://www.ema.europa.eu/en/news/fluoroquinolone-quinolone-antibiotics-prac-recommends-restrictions-use

  1. 2.ANSM: Ngày 04/10/2018, Cơ quan quản lý Dược phẩm Pháp cảnh báo chống chỉ định acetazolamid trên phụ nữ có thai

Từ trang Web: canhgiacduoc.org.vn

Dựa trên kết quả tổng kết các dữ liệu lâm sàng, ANSM xác định có tín hiệu về khả năng gây dị tật và gây độc thai nhi khi phơi nhiễm acetazolamid trong thai kỳ.

Trên thực tế, tác dụng gây quái thai của acetazolamid đã được ghi nhận trên nhiều loại động vật, đồng thời, đã ghi nhận một số trường hợp xuất hiện dị tật thai nhi khi sử dụng thuốc trên người. Có sự tương đồng về độc tính của thuốc trên người và trên động vật về triệu chứng (ảnh hưởng đến vùng thị giác, vùng mặt và xương của thai nhi) khi phơi nhiễm trong 3 tháng đầu cũng như sự tương đồng trong cơ chế gây ra những tác dụng trên. Ngoài ra, căn cứ trên cơ chế tác dụng, có thể nhận định rằng nguy cơ trên thai nhi của thuốc không chỉ dừng lại ở 3 tháng đầu của thai kỳ. Đã ghi nhận những bất thường trong chuyển hóa (nhiễm toan chuyển hóa, hạ calci, hạ magie, mất nước và hạ phosphat máu), bất thường thể tích dịch ối và nguy cơ gây vỡ ối muộn trên trẻ sơ sinh phơi nhiễm acetazolamid trong thai kỳ. Vì các lý do trên, ANSM quyết định chống chỉ định acetazolamid trên phụ nữ có thai.

Nguồn: https://www.ansm.sante.fr/S-informer/Actualite/Acetazolamide-Diamox-et-Defiltran-nouvelle-contre-indication-pendant-la-grossesse-Point-d-information

                                                                                                         Châu Đốc, ngày 06 tháng 11 năm 2018

                                                                                                                        Duyệt thông tin thuốc

 

THÔNG TIN THUỐC THÁNG 10/2018

  1. 1. ANSM: Ngày 26/9/2018, Cơ quan Quản lý dược phẩm Pháp nhấn mạnh việc sử dụng hợp lý diclofenac sau một công bố về nghiên cứu mới trên nguy cơ tim mạch
    1. 3.Bằng chứng mới về vai trò của corticoid trong điều trị viêm phổi mắc phải tại cộng đồng

Diclofenac là một NSAID được sử dụng trong điều trị các triệu chứng đau và viêm, đặc biệt là trong các bệnh thấp khớp và đau do chấn thương. Ở Pháp, các thuốc có chứa diclofenac dùng toàn thân (viên nén, viên nang, thuốc đạn và các dung dịch tiêm) chỉ được sử dụng khi có đơn.

ANSM nhắc lại cho các bác sĩ về tầm quan trọng của việc tuân thủ các chỉ định được phê duyệt với các thuốc này, bao gồm cả Chống chỉ định, cảnh báo và việc bệnh nhân không được tự ý sử dụng không có đơn với các thuốc có chứa diclofenac.

ANSM đã ghi nhận các kết quả của một nghiên cứu mới ở Đan Mạch về các tác dụng trên tim mạch của diclofenac đường uống; nghiên cứu cho thấy một nguy cơ gia tăng về biến cố tim mạch với diclofenac ngay ở liều thấp sử dụng trong thời gian ngắn (30 ngày) so với thuốc khác (như paracetamol, ibuprofen, naproxen). Do đó, bệnh nhân được khuyến cáo không tự ý sử dụng diclofenac không đơn, và nếu được kê đơn, thuốc chỉ được sử dụng như một lựa chọn hàng hai sau các NSAID khác.

            Các nguyên tắc sử dụng thuốc hợp lý được khuyến cáo:

- Trước khi bắt đầu điều trị cần đánh giá kỹ các nguy cơ tim mạch của bệnh nhân,

- Sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất cần thiết để kiểm soát các triệu chứng.

Nguồn: https://www.ansm.sante.fr/S-informer/Points-d-information-Points-d-information/Rappel-du-bon-usage-du-diclofenac-apres-la-publication-d-une-nouvelle-etude-relative-au-risque-cardiovasculaire

2. Medsafe: Ngày 25/9/2018, Cơ quan quản lý Dược phẩm New Zealand đăng thư gửi cán bộ y tế của Fresenius Kabi về cập nhật thông tin an toàn thuốc liên quan đến chế phẩm VOLULYTE 6% hydroxyethyl starch 130/0,4, dung dịch 500 ml truyền tĩnh mạch

Fresenius Kabi New Zealand Limited đề nghị cán bộ y tế đảm bảo sử dụng đúng cách và an toàn với dung dịch chứa HES như Voluven 6% và Volulyte 6% theo tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đã được phê duyệt và lưu ý các chống chỉ định sau:

          - Bệnh nhân nặng (thường được đưa vào ICU), kể cả bệnh nhân sepsis

- Quá tải dịch, đặc biệt các trường hợp phù phổi và suy tim xung huyết

- Bệnh nhân có rối loạn đông máu và xuất huyết trước đó

- Bệnh nhân suy thận với thiểu niệu hoặc vô niệu không liên quan đến giảm thế tích máu

- Bệnh nhân lọc máu

- Xuất huyết não

- Tăng natri hoặc clo máu nghiêm trọng (Voluven)

- Tăng kali máu nghiêm trọng, tăng natri hoặc clo máu nghiêm trọng (Volulyte)

- Mẫn cảm với HES

- Bệnh nhân mắc bệnh gan nặng

          Cán bộ y tế cần lưu ý các chống chỉ định được liệt kê ở trên, đặc biệt là chống chỉ định với bệnh nhân mắc sepsis, suy thận hoặc lọc máu.           Nguồn: http://www.medsafe.govt.nz/safety/DHCPLetters/Volulyte&Voluven%2012-09-2018.pdf

Tác động có hại nghiêm trọng có thể xảy ra do corticoid được giới hạn việc sử dụng trong trị liệu. Tuy nhiên, corticoid có thể giúp làm giảm phản ứng viêm ở những bệnh nhân viêm phổi mắc phải tại cộng đồng (CAP). Các bằng chứng mới đây đã tiết lộ nhiều thông tin về vai trò của corticoid trong điều trị CAP.

          Năm 2015, các kết quả từ 2 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên cho thấy sử dụng corticoid toàn thân mang lại lợi ích cho một số bệnh nhân nhập viện do CAP [1,2]. Mới đây, 2 phân tích tổng hợp từ Cochrane Library và Hiệp hội Bệnh nhiễm Hoa Kỳ (IDSA) đã xác định vai trò của việc sử dụng thường quy corticoid toàn thân so với không sử dụng corticoid ở những bệnh nhân CAP.

          Một số định nghĩa

          - CAP mức độ nặng: tình trạng bệnh nhân cần đến các biện pháp hỗ trợ tại khoa ICU.

          - NNT: số người cần điều trị để thấy được một trường hợp hưởng lợi từ can thiệp.

- NNH: số người cần điều trị để phát hiện một trường hợp gặp phải tác động có hại.

          Các kết quả phân tích mới

- Corticoid làm giảm có ý nghĩa tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân CAP mức độ nặng (8% vs. 13%; NNT = 19), nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân không phải mức độ nặng.

- Corticoid cũng liên quan tới việc giảm có ý nghĩa số ca suy hô hấp mới (3% vs. 5%; NNT = 50) và sốc (4% vs. 24%; NNT = 6) cùng với giảm thời gian nằm viện khoảng 3 ngày.

2. Phân tích của ISDA trên khoảng 1500 bệnh nhân từ 6 thử nghiệm (đã loại trừ các thử nghiệm không thể xác minh được dữ liệu ở cấp độ bệnh nhân) [4].

- Ở những bện nhân CAP nặng, corticoid không làm giảm có ý nghĩa tỷ lệ tử vong (8% vs. 12%), nhưng giảm có ý nghĩa thời gian nằm viện (trên 1 ngày).

- Tuy nhiên, corticoid cũng làm gia tăng có ý nghĩa tỷ lệ tái nhập viện liên quan đến CAP (viêm phổi tái phát, bệnh nhiễm khác, đau màng phổi, biến có tim mạch có hại, tiêu chảy) trong vòng 30 ngày (5% vs. 3%; NNH = 44). Sự khác biệt chủ yếu ở những bệnh nhân CAP không ở mức độ nặng [4].

Bên cạnh các tiêu chí đánh giá trên, cả 2 phân tích đều cho thấy việc gia tăng có ý nghĩa tỷ lệ tăng đường huyết ở những bệnh nhân dùng corticoid [3,4].

Tạm kết

Việc sử dụng corticoid toàn thân liều thấp (khoảng 40mg) trong thời gian ngắn (3-7 ngày) nên được cân nhắc ở những bệnh nhân trưởng thành nội trú mắc CAP mức độ nặng do có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và thời gian nằm viện.

Những kết quả này không áp dụng cho bệnh nhân CAP ngoại trú, bệnh nhân nội trú mắc viêm phổi bệnh viện hoặc viêm phổi liên quan đến thở máy. Cần thêm kết quả từ các thử nghiệm ngẫu nhiên khác để có thể xác minh thêm vai trò của corticoid trong điều trị viêm phổi [6].

Tài liệu tham khảo

Duyệt tổ thông tin thuốc

Xem nội dung file ThongTinThuocThang 09 Nam2018 và Download tại đây

THÔNG TIN THUỐC THÁNG 09/2018

  1. 1.ANSM: Ngày 21/8/2018, Cơ quan quản lý Dược phẩm Pháp khuyến cáo duy trì các chỉ định được cấp phép khi tuân thủ chặt chẽ điều kiện sử dụng dung dịch tiêm truyền chứa hydroxyethyl starch (HES)
  2. 2.ANSM: thông báo về việc lấy ý kiến cộng đồng để nâng cao nhận thức của bệnh nhân và nhân viên y tế về nguy cơ nhiễm độc gan khi sử dụng sai paracetamol
  3. 3.Medsafe: Ngày 14/8/2018, Cơ quan quản lý Dược phẩm New Zealand cảnh báo isotretinoin và rối loạn ám ảnh cưỡng chế (Obsessive Compulsive Disorder-OCD) được bổ sung vào Chương trình theo dõi sử dụng thuốc

Ủy ban  châu Âu từ tháng 7/2018 đã quyết định thực hiện các biện pháp mới nhằm tăng cường việc sử dụng dịch truyền chứa hydroxyethyl starch (HES) hợp lý, đặc biệt đối với nguy cơ gây tổn thương thận hoặc tử vong ở bệnh nhân có nhiễm trùng huyết hoặc đang trong tình trạng nguy kịch.

Năm 2012, một cuộc tái đánh giá của châu Âu với các dịch truyền chứa HES đã được tiến hành sau khi có công bố kết quả của một số nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ so sánh sự an toàn của các chế phẩm khác nhau trong điều trị giảm thể tích máu. Kết quả của đánh giá cho thấy tỷ lệ có tổn thương thận và tử vong ở những bệnh nhân sử dụng HES (dịch truyền dạng keo) cao hơn so với dịch truyền tinh thể (natri clorua, Ringer ...) khi có nhiễm trùng huyết hoặc trong các tình trạng nguy kịch. Tuy nhiên, những nghiên cứu này tiến hành trên các sản phẩm và các nhóm bệnh nhân không đồng nhất, phương pháp nghiên cứu cũng được cho là có thiên lệch; hơn nữa, một nghiên cứu của Pháp không chứng minh được sự khác biệt giữa các sản phẩm khác nhau.

Trong bối cảnh này, để phòng ngừa, Ủy ban châu Âu đã quyết định giới hạn các chỉ định dịch truyền HES chỉ trong các trường hợp mà các dịch truyền tinh thể không đem lại đủ hiệu quả, giới hạn thời gian điều trị là 24 giờ mà không vượt quá liều 30 ml/kg/ngày. Các chống chỉ định và các cảnh báo bổ sung cũng được nhấn mạnh, đặc biệt là trong các tình trạng nguy kịch, nhiễm trùng huyết và suy thận.

Ủy ban cũng đã yêu cầu tiến hành các nghiên cứu so sánh dữ liệu hiệu quả và an toàn lâu dài đối với dịch truyền HES so với dịch truyền tinh thể ở những bệnh nhân cần bồi hoàn thể tích máu trong các tình trạng phẫu thuật và chấn thương, và các nghiên cứu quan sát sử dụng thuốc để giám sát việc tuân thủ các điều kiện lưu hành mới.

Các hoạt động đã thực hiện trong năm 2017 và tăng cường giám sát

Mặc dù các giới hạn chỉ định đã có hiệu lực từ năm 2013, các nghiên cứu sử dụng năm 2017 đã chỉ ra rằng các dịch truyền HES vẫn còn được sử dụng trong một số trường hợp có chống chỉ định, như nhiễm trùng huyết, suy thận hoặc ở bệnh nhân hồi sức. Trên cơ sở các dữ liệu này, Thụy Điển bắt đầu phán quyền mới của châu Âu và đề xuất đình chỉ lưu hành HES.

Một số nước châu Âu đã ước tính rằng thằng bằng lợi ích/nguy cơ của HES không thể đánh giá được từ dữ liệu quan sát sử dụng, khi chưa có kết quả của các nghiên cứu lâm sàng được yêu cầu trong năm 2013 và hiện đang được tiến hành.

Tháng 7/2018 Ủy ban châu Âu đã quyết định duy trì lưu hành HES và thực hiện các biện pháp giảm thiểu nguy cơ mới, biện pháp chính là kiểm soát việc cung cấp HES được áp dụng cho các cơ sở sản xuất trong 9 tháng tới.

Thông tin về các biện pháp giảm thiểu rủi ro và nhắc nhở về việc sử dụng đúng HEA đã được gửi đến tất cả các NVYT có liên quan.

ANSM nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện chỉ định được cấp phép, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và cung cấp ổn định các thuốc này.

Nguồn: https://www.ansm.sante.fr/S-informer/Points-d-information-Points-d-information/Solutions-pour-perfusion-a-base-d-hydroxyethylamidon-HEA-maintien-des-AMM-sous-reserve-du-strict-respect-des-conditions-d-utilisation-Point-d-Information

Thông tin dành cho NYYT: https://www.ansm.sante.fr/S-informer/Informations-de-securite-Lettres-aux-professionnels-de-sante/Solutions-pour-perfusion-a-base-d-hydroxyethylamidon-HEA-nouvelles-mesures-visant-a-renforcer-les-restrictions-existantes-Lettre-aux-professionnels-de-sante


ANSM muốn tăng cường thông tin trên sản phẩm có chứa paracetamol để người bệnh và NVYT nhận thức được nguy cơ liên quan đến việc lạm dụng paracetamol, thuốc giảm đau đầu tiên được sử dụng ở Pháp. ANSM tiến hành lấy ý kiến công khai về thông điệp cảnh báo sẽ có trên các chế phẩm và thống nhất các nội dung đã có nhằm dự phòng nguy cơ trên gan của thuốc này. 

Paracetamol là hoạt chất được tiêu thụ nhiều nhất ở Pháp với mức tiêu thụ đã tăng 53% trong 10 năm. Khoảng 200 loại thuốc có chứa paracetamol, dạng đơn độc hoặc phối hợp với các chất khác, hiện đang được lưu hành OTC để điều trị đau, sốt hoặc các triệu chứng cảm lạnh. 

- Trong những năm 1980, Pháp là quốc gia châu Âu đầu tiên giới hạn liều paracetamol mỗi hộp (8 gram).

- Từ năm 1998, ANSM đã yêu cầu phổ biến các thông điệp cảnh báo trong các quảng cáo tiêu dùng, đặc biệt là sự có mặt của paracetamol trong thuốc và nguy cơ khi dùng đồng thời một số loại thuốc đều có chứa paracetamol để tránh nguy cơ quá liều.

- Trong năm 2008, một chiến dịch hỗ trợ việc tự dùng paracetamol đã được thực hiệnl, tờ thông tin khi cấp phát và tờ thông tin được phát cho bệnh nhân, đề cập đến nguy cơ trên gan trong trường hợp quá liều.

- Đến nay, tất cả quảng cáo đều phải đề cập bằng lời nội dung "Thuốc này chứa paracetamol, hãy thận trọng do có thể gặp nguy cơ phản ứng có hại trên gan trong trường hợp quá liều".

Nguồn: https://www.ansm.sante.fr/S-informer/Points-d-information-Points-d-information/Paracetamol-l-ANSM-lance-une-consultation-publique-pour-sensibiliser-les-patients-et-les-professionnels-de-sante-au-risque-de-toxicite-pour-le-foie-en-cas-de-mesusage-Point-d-Information

Trung tâm theo dõi phản ứng có hại của thuốc (CARM) vừa nhận được một báo cáo trường hợp một bệnh nhi nam 14 tuổi xuất hiện rối loạn ám ảnh cưỡng chế và các triệu chứng lo âu ngắn hạn sau khi bắt đầu điều trị mụn trứng cá bằng isotretinoin đường uống. Sau một vài tuần, bệnh nhân được ngừng sử dụng isotretinoin nhưng các triệu chứng không cải thiện.

Cơ sở dữ liệu của WHO xác định được 106 báo cáo về hội chứng này liên quan đến sử dụng isotretinoin. Các trường hợp này được mô tả không đầy đủ và không thể xác định mối quan hệ nhân quả giữa việc dùng isotretinoin và hội chứng OCD.

Hội đồng phản ứng có hại của thuốc (MARC) đã rà soát các thông tin sẵn có trong cuộc họp lần 174 ngày 3/7/2018. MARC kết luận rằng hiện tại chưa có đủ bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa việc dùng isotretinoin và OCD. Tuy nhiên, MARC khuyến cáo theo dõi thêm để khuyến khích báo cáo các trường hợp OCD khi bệnh nhân dùng isotretinoin.

Nguồn: http://www.medsafe.govt.nz/safety/EWS/2018/Isotretinoin.asp

Duyệt tổ thông tin thuốc

 

Xem nội dung file ThongTinThuocThang 08 Nam2018 và Download tại đây

THÔNG TIN THUỐC THÁNG 08/2018

  1. 1.FDA: Ngày 03/8/2018, Cơ quan quản lý Dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ cảnh báo tăng nguy cơ tái phát ung thư khi sử dụng dài hạn Zithromax, Zmax (azithromycin) ở bệnh nhân ghép tế bào gốc
  2. 2.Vai trò của PPI trong dự phòng xuất huyết tiêu hóa ở bệnh nhân dùng liệu pháp chống kết tập tiểu cầu kép

Không nên sử dụng Zithromax, Zmax (azithromycin) dài hạn để dự phòng viêm phổi ở bệnh nhân ung thư máu hoặc hạch bạch huyết từng ghép tế bào gốc. Kết quả từ một thử nghiệm lâm sàng chỉ ra tỷ lệ tái phát ung thư tác động đến máu và hạch bạch huyết tăng, bao gồm tử vong ở các bệnh nhân này. Cơ quan này đang rà soát dữ liệu bổ sung và sẽ công bố kết quả cũng như đưa ra khuyến cáo khi hoàn thành cuộc rà soát.

Bối cảnh: Một tình trạng nghiêm trọng tại phổi được dự phòng bằng azithromycin dài hạn đang được nghiên cứu là hội chứng viêm tắc tiểu phế quản (bronchiolitis obliterans). Hội chứng này gây ra bởi tình trạng viêm và sẹo ở đường hô hấp dẫn đến khó thở và ho khan. Các bệnh nhân ung thư đã ghép tế bào gốc có nguy cơ mắc hội chứng này. Công ty sản xuất biệt dược gốc azithromycin đã gửi thư về thông tin an toàn này đến cán bộ y tế điều trị cho bệnh nhân ghép tế bào gốc.

Azithromycin không được phê duyệt để dự phòng hội chứng viêm tắc tiểu phế quản. Đây là kháng sinh được FDA phê duyệt sử dụng điều trị nhiều loại nhiễm khuẩn tại phổi, xoang, da và các bộ phận khác. Thuốc này đã được sử dụng trên 26 năm tại Hoa Kỳ với biệt dược gốc là Zithromax và Zmax và nhiều loại thuốc generic khác. Kháng sinh gây ức chế sự phát triển của vi khuẩn.

Khuyến cáo: Cán bộ y tế không nên kê đơn dài hạn azithromycin để dự phòng hội chứng viêm tắc tiểu phế quản ở bệnh nhân ghép tế bào gốc vì tăng nguy cơ tái phát ung thư và tử vong.

Các bệnh nhân ghép tế bào gốc không nên ngừng sử dụng azithromycin mà không có tư vấn của cán bộ y tế. Tự ý ngừng thuốc có thể có tác hại khi không có giám sát của cán bộ y tế. Trao đổi với cán bộ y tế nếu có băn khoăn trong quá trình dùng thuốc.

Nguồn: https://www.fda.gov/Safety/MedWatch/SafetyInformation/SafetyAlertsforHumanMedicalProducts/ucm615738.htm


Tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa (XHTH) được dự đoán sẽ tăng lên do vai trò và việc sử dụng liệu pháp kháng tiểu cầu kép (DAPT) đang giá tăng [1]. XHTH ở những bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành (CAD) thường có tiên lượng xấu. Thuốc ức chế bơm proton (PPI) có thể được sử dụng để giảm thiểu và ngăn chặn xuất huyết.

Cơ chế gây XHTH ở bệnh nhân điều trị với DAPT không phải do các tác nhân trực tiếp gây ra mà do sự kết hợp giữa tác động ức chế prostaglandin của aspirin và giảm kết tập tiểu cầu do aspirin và chất ức chế P2Y12. Thêm vào đó, DAPT làm thay đổi các cơ chế bảo vệ tự nhiên của cơ thể như lớp chất nhầy và sự bài tiết bicarbonate, dẫn tới gia tăng tác động của các acid nội sinh lên tế bào biểu mô dễ bị tổn thương. Vì cần phải có thời gian dài để lành, các vết xuất huyết có thể sẽ tăng lên về kích thước và phạm vi xuất huyết. Việc bổ sung PPI được cho là giúp tái lập sự cân bằng giữa việc tiết aicd với sự bài tiết chất nhầy và bicarbonate.

Trường ban Tim mạch Hoa Kỳ, Hiệp hội Tiêu hóa Hoa Kỳ và Hiệp hội Tim Hoa Kỳ (ACCF/ACG/AHA) đã đưa ra một tuyên bố đồng thuận vào năm 2010 đề xuất việc sử dụng PPI để giảm nguy cơ XHTH ở bệnh nhân sử dụng DAPT [3]. Theo đó, khuyến cáo cân nhắc dùng PPI trên bệnh nhân sử dụng DAPT có nguy cơ cao (người cao tuổi, có tiền sử XHTH, nhiễm H.pylori hoặc đang sử dụng NSAID, steroid, thuốc chống đông máu). Bên cạnh đó, tuyên bố đặc biệt lưu ý tránh sử dụng PPI trên bệnh nhân có nguy cơ XHTH thấp, đồng thời cho rằng PPI làm giảm XHTH trên có hiệu quả hơn thuốc kháng thụ thể H2.

Hướng dẫn mới của Hiệp hội Tim mạch Châu Âu (ESC)

Hướng dẫn mới nhất về DAPT của ESC khuyến cáo sử dụng PPI ở bệnh nhân đang điều trị với DAPT (mức độ khuyến cáo: 1B) [6]. Hướng dẫn chỉ ra rằng có rất ít bằng chứng cho thấy sử dụng đồng thời PPI và DAPT dẫn tới gia tăng biến cố tim mạch hay các kết cục có hại khác, trong khi đó giúp làm giảm XHTH ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Hướng dẫn mới này sát với Hướng dẫn của ACCF/AHA/SCAI PCI năm 2011 và Hướng dẫn cập nhật của ACC/AHA năm 2016 về sử dụng DAPT ở những bệnh nhân có bệnh động mạch vành [7,8].

Tạm kết

Việc sử dụng PPI để dự phòng XHTH ở bệnh nhân dùng DAPT nên được tiến hành, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết cao như có tiền sử XHTH, bệnh nhân >65 tuổi, nhiễm H.pylori hoặc đang sử dụng NSAID, steroid hoặc thuốc chống đông máu. Điều này sẽ hạn chế các biến cố có hại ở đối tượng có nguy cơ thấp và giúp cân bằng nguy cơ với lợi ích ở những người có nguy cơ XHTH cao.

Tài liệu tham khảo


Duyệt tổ thông tin thuốc

 

HOTLINE

Fanpage

Thống kê truy cập

2952777
 

Trang web hiện có:
373 khách & 0 thành viên trực tuyến

slogan 1

htcm3

                                                 

                                                              bvcr          bvtn          phusanCT          sis

Bản quyền thuộc về Bệnh Viện Đa Khoa Châu Đốc
Địa chỉ: 917 Tôn Đức Thắng - Phường Châu Đốc - An Giang

Được thiết kế bởi Tổ Công Nghệ Thông Tin - Bệnh Viện Đa Khoa Châu Đốc
Điện thoại: 1900585816 - Email: bvdkchaudoc@gmail.com
Copyright © 2012. All Rights Reserved.